Từ đánh giá hình thức đến đánh giá bằng dữ liệu
Trong nhiều năm qua, hoạt động đánh giá KHCN chủ yếu tập trung vào việc tổng hợp số lượng nhiệm vụ thực hiện, tỷ lệ giải ngân hay tiến độ triển khai các đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nếu chỉ dừng lại ở những chỉ số đầu vào thì rất khó phản ánh đầy đủ hiệu quả đầu tư của Nhà nước cũng như giá trị thực sự của các kết quả nghiên cứu. Điểm mới nổi bật của Kế hoạch số 303/KH-UBND là xây dựng một hệ thống đánh giá toàn diện, chuyển mạnh từ cách tiếp cận "đánh giá quá trình" sang "đánh giá kết quả và tác động". Theo đó, việc đánh giá không chỉ xem xét số lượng nhiệm vụ khoa học được triển khai mà còn phân tích mức độ ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, khả năng thương mại hóa công nghệ, hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ, xây dựng thị trường công nghệ và thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, Kế hoạch yêu cầu việc đánh giá phải dựa trên dữ liệu có nguồn gốc rõ ràng, có minh chứng, được kiểm chứng từ nhiều nguồn khác nhau; kết hợp giữa đánh giá định lượng với định tính, giữa báo cáo hồ sơ với khảo sát thực tế. Đây là yêu cầu rất quan trọng nhằm nâng cao độ tin cậy của kết quả đánh giá, đồng thời hạn chế tình trạng báo cáo thành tích hoặc số liệu chưa phản ánh đúng thực chất.
Lãnh đạo, cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên trao đổi trực tuyến với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và Trung tâm Đổi mới sáng tạo BizCare về các nội dung hợp tác phát triển đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp vào ngày 16/4/2026. Ảnh CTV.
Một trong những điểm đáng chú ý của Kế hoạch là xây dựng ba nhóm nội dung đánh giá gồm: Kết quả hoạt động KHCN&ĐMST; hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu quả, tác động của hoạt động khoa học, công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Ở nhóm đánh giá hiệu quả và tác động, nhiều tiêu chí mới được đưa vào như: Giá trị gia tăng từ ứng dụng kết quả nghiên cứu; mức tăng năng suất lao động; doanh thu từ sản phẩm ứng dụng khoa học; khả năng huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động khoa học; mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân thụ hưởng; khả năng cải thiện chất lượng dịch vụ công; tăng cường liên thông dữ liệu và rút ngắn thời gian xử lý công việc. Những tiêu chí này phản ánh rõ quan điểm quản lý mới: Hoạt động khoa học không chỉ tạo ra các báo cáo nghiên cứu mà phải trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề phát triển của địa phương, nâng cao hiệu quả quản trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Bộ chỉ tiêu với 42 tiêu chí đánh giá
42 chỉ tiêu đánh giá, bao quát toàn bộ chuỗi hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó, nhiều mục tiêu cụ thể được xác định cho năm 2026 như: Phê duyệt 11 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; duy trì 100% nhiệm vụ nghiệm thu đúng thời hạn; có 10 kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn; hỗ trợ 65 hồ sơ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ 15 doanh nghiệp, tổ chức về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; hỗ trợ 2 doanh nghiệp đổi mới hoặc chuyển giao công nghệ; tổ chức 4 hoạt động kết nối cung cầu công nghệ; tổ chức 8 lớp tập huấn về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đạt 98% mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với các hoạt động hỗ trợ KHCN&ĐMST của tỉnh.
Đáng chú ý, Kế hoạch cũng đặt mục tiêu nâng số sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương được nâng cao giá trị nhờ ứng dụng khoa học và công nghệ từ 157 lên 170 sản phẩm; tăng tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo từ 30% lên 50%; nâng số sản phẩm đặc sản được bảo hộ sở hữu trí tuệ từ 4 lên 7 sản phẩm. Đây đều là những chỉ tiêu có ý nghĩa trực tiếp đối với phát triển kinh tế địa phương.
Điểm nổi bật trong Kế hoạch là yêu cầu ưu tiên sử dụng dữ liệu số và các hệ thống thông tin chuyên ngành để phục vụ đánh giá. Theo đó, dữ liệu sẽ được khai thác từ các cơ sở dữ liệu, hệ thống quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, hồ sơ điện tử, kết quả thanh tra, kiểm tra, khảo sát thực tế... nhằm hạn chế việc yêu cầu các đơn vị báo cáo nhiều lần, giảm thủ tục hành chính và bảo đảm tính thống nhất của số liệu.
Kế hoạch cũng đặt mục tiêu duy trì 100% hồ sơ thủ tục hành chính lĩnh vực khoa học và công nghệ được xử lý đúng hạn, 100% hồ sơ được tiếp nhận và xử lý trực tuyến, 100% văn bản chuyên môn được số hóa và cập nhật trên môi trường điện tử. Những chỉ tiêu này thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển khoa học, công nghệ với chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số của tỉnh.
Việc đánh giá toàn diện hoạt động KHCN&ĐMST năm 2026 không chỉ nhằm tổng kết kết quả thực hiện nhiệm vụ trong một năm mà còn tạo cơ sở dữ liệu quan trọng để hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn tiếp theo.
Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh thực hiện các chủ trương lớn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc Điện Biên xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên dữ liệu, minh chứng và tác động thực tiễn thể hiện quyết tâm đổi mới tư duy quản lý. Đây cũng là tiền đề để nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ được sử dụng hiệu quả hơn, các kết quả nghiên cứu gắn chặt hơn với nhu cầu phát triển của địa phương, đồng thời thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có chiều sâu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực tăng trưởng mới và thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh trong thời gian tới.
Minh Thùy